9 bài thuốc trị đau nhức răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để.
Viem xoang Hong Khoi Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:
BÀI 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nước sắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.
BÀI 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.
BÀI 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nước đặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.
BÀI 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài, thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liền hoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.
BÀI 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.
BÀI 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.
BÀI 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.
BÀI 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấm thuốc 3 – 5 lần.
BÀI 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vị lá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụng giảm đau nhanh hơn.
Nguồn: Sức khỏe và Đời sống

Viêm đại tràng

Viêm đại tràng là một trong những bệnh lý đường tiêu hóa thường gặp ở nhiều nước đang phát triển, trong đó có nước ta và có xu hướng ngày càng tăng.
viem dai trangNgười bệnh thường có các triệu chứng như đau bụng, thường ở bên trái và hai hố chậu, đại tiện lỏng nhiều lần trong ngày, hay mót rặn, phân có thể có nhày mũi hoặc máu, toàn thân mệt mỏi, ăn ngủ kém, đầy bụng, chán ăn, gầy sút, da xanh…
Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh theo từng thể lâm sàng.
VIÊM ĐẠI TRÀNG THỂ HÀN THẤP
* Biểu hiện: Người bệnh đau bụng âm ỉ, bụng đầy hơi, đại tiện nhiều lần, phân lỏng hoặc sền sệt, người yếu mệt, da xanh, tay chân lạnh, ăn uống kém, gầy sút. Phép trị là ôn trung tán hàn, kiện tỳ bổ vị. Dùng một trong các bài:
BÀI 1: bạch truật 16g, tất bát 12g, lương khương 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, trần bì 10g, vỏ quế 8g, đinh lăng 16g, ngũ gia bì 16g, đương quy 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
BÀI 2: ngải diệp 12g, lá đinh lăng (sao) 16g, hoài sơn 16g, ý dĩ 12g, bạch truật 16g, bạch linh 12g, cẩu tích 12g, lá khổ sâm 12g, hậu phác 12g, trần bì 10g, cam thảo chích 12g, vỏ quế 8g, lá xuyên tâm liên 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
VIÊM ĐẠI TRÀNG THỂ THẤP NHIỆT
* Biểu hiện: Người bệnh đau bụng âm ỉ, bụng dưới trướng nổi cục, đại tiện thất thường khi táo khi lỏng, đầy hơi, ăn uống kém, người mệt mỏi gầy sút. Phép trị là chống viêm thanh nhiệt, hóa thấp kiện tỳ.
BÀI THUỐC: bán hạ 10g, hậu phác 10g, ngân hoa 10g, liên kiều 12g, cây ngũ sắc 16g, bồ công anh 16g, nam hoàng bá 16g, lá nhót 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, đương quy 12g, cam thảo chích 12g, kê nội kim (sao vàng) 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
– Nếu phân có lẫn máu mũi, gia: hoàng liên 12g, cỏ mực (sao đen) 16g, chi tử (sao đen) 12g.
– Nếu bụng đầy hơi, khó chịu, gia: sinh khương 4g, chỉ xác 10g, trần bì (sao) 12g.
– Nếu người bệnh cơ thể suy nhược, gia: phòng sâm 16g, hà thủ ô chế 16g, táo tàu 10g.
– Nếu người bệnh ít ngủ, hoa mắt chóng mặt, gia: nhân sâm 10g, sinh khương 6g, ngũ vị 12g, táo nhân sao đen 16g.
VIÊM ĐẠI TRÀNG SAU LỊ
* Biểu hiện: Người bệnh đau bụng từng cơn, phân sống kèm theo nhày, có khi lẫn máu, đại tiện nhiều lần, ăn uống kém, tiền sử có bị chứng lỵ nhưng điều trị không triệt để, mầm mống của bệnh lỵ vẫn còn, âm thầm phá hủy chức năng của đại tràng, gây ra những đợt cấp tính, kéo dài. Lâu ngày ảnh hưởng đến sức khỏe gây suy nhược cơ thể. Phép trị là chống viêm, thanh nhiệt, kiện tỳ bổ vị. Dùng một trong các bài:
BÀI 1: rau sam 20g, cỏ sữa 20g, lá đinh lăng 20g, cây seo gà 20g, lá phèn đen 20g, hoàng liên 12g, cây ngũ sắc (sao vàng) 20g, chi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
BÀI 2: lá mã đề (sao vàng hạ thổ) 20g, lá đinh lăng (sao thơm) 20g, cây seo gà 20g, cỏ mực 20g, cát căn 16g, bạch truật 16g, cỏ sữa lá to 20g, lá khổ sâm 16g, búp ổi 16g, lá nhót 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
BÀI 3: hoàng đằng 12g, cỏ sữa lá to 20g, cỏ mực 20g, lá nhót 20g, búp ổi 12g, kê nội kim (sao) 12g, ngân hoa 10g, bạch truật 12g, ý dĩ 10g, chích thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng 10 – 15 ngày là một đợt.
Nguồn: Sức khỏe và Đời sống

Bệnh gan nhiễm mỡ và bài thuốc dân gian hiệu quả

 
benh gan nhiem moTheo Đông y, gan nhiễm mỡ thường gặp ở các trường hợp tích tụ (đàm tích), hiếp thống (đau hông sườn), hoàng đản (viêm gan vàng da), can ngạnh hóa (xơ gan)… Đông y có những món ăn – trà – bài thuốc điều trị chứng này hiệu quả.
Tùy theo một số triệu chứng đi kèm với gan nhiễm mỡ mà Đông y phân ra 6 thể khác nhau với những triệu chứng đi kèm có khác nhau, nên các món ăn thích hợp với mỗi trường hợp cũng có khác nhau.
Sau đây là các món ăn dùng trong chữa trị gan nhiễm mỡ theo Đông y:
  • "THỂ CAN KHÍ UẤT": người bệnh thấy tức ngực, trướng bụng, đau tức vùng hạ sườn phải, ăn chậm tiêu, ợ hơi, người bực dọc, phiền muộn, dễ cáu gắt, giận dữ. Ở phụ nữ, thường có thống kinh (đau bụng kinh), bế kinh, kinh nguyệt không đều.
MỘT VÀI MÓN ĂN THÍCH HỢP:
1. Cháo gạo, trần bì (vỏ quít khô):
Trần bì 15g, gạo tẻ 100g.
Trần bì rửa sạch, phơi sấy khô, tán nhỏ. Gạo vo sạch, cho vào nồi đất hoặc nồi thủy tinh, thêm nước vừa đủ, nấu thành cháo nhừ. Cho trần bì vào trộn đều, hạ lửa nhỏ nấu sôi lại là được. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.
2. Nước củ cải, quất:
Củ cải trắng 100g, rửa sạch, xắt nhỏ, ép lấy nước. Quất 5 trái, rửa sạch, bỏ hạt, giã nát. Trộn đều nước củ cải và quất, thêm mật ong 20g, hòa với 300ml nước sôi. Chia 2 lần uống trước bữa ăn.
  • "THỂ KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ": đau tức hạ sườn phải, gan sưng to có thể sờ thấy được, lưỡi đỏ tía, mạch căng như dây đàn (huyền).
MỘT VÀI MÓN ĂN THÍCH HỢP
1. Trà tam thất:
Tam thất 3g rửa sạch, phơi sấy khô, tán vụn, trà xanh 3g. Hai thứ cho vào ấm sành, hãm với 200ml nước sôi, đậy kín 10 – 15 phút. Có thể ngâm 3 – 4 lần cho ra hết thuốc. Dùng uống thay trà trong ngày. Sau khi uống nước có thể ăn luôn cả xác thuốc tam thất.
2. Trà nghệ, trần bì:
Nghệ vàng 10g, trần bì 10g, hai thứ rửa sạch, phơi sấy khô, tán nhỏ cùng với trà xanh 3g. Chia làm 2 phần, mỗi lần dùng 1 phần, sắc uống như trên.
  • "THỂ ĐÀM THẤP": thường gặp ở người béo phì, bụng to, tay chân nặng nề, yếu mỏi không có sức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dày.
MỘT VÀI MÓN ĂN THÍCH HỢP
1. Trà sơn tra, lá sen:
Sơn tra 15g rửa sạch, xắt mỏng. Lá sen 15g rửa sạch, phơi sấy khô, bóp vụn. Nấu chung với 600ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.
2. Cháo ý dĩ, lá sen:
Ý dĩ nhân 30g, lá sen tươi 50g. Hai thứ rửa sạch, lá sen xắt nhỏ. Nấu với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn vào lúc đói bụng.
  • THỂ TỲ KHÍ SUY: người bệnh suy nhược cơ thể, người mệt mỏi, không có sức, hơi thở ngắn, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện phân lỏng, lưỡi hồng nhạt.
MỘT VÀI MÓN ĂN THÍCH HỢP
1. Cháo sơn tra, bột bắp:
Sơn tra 15g rửa sạch xắt mỏng, bột bắp 100g trộn đều với nước nóng. Nấu sơn tra với 1 lít nước, đun sôi mạnh rồi nhỏ lửa, khoảng 20 phút. Cho hồ bột bắp vào nồi thuốc, vừa đổ vừa quậy đều cho tan bột. Có thể thay thế sơn tra bằng hoài sơn 20g. Dùng ăn điểm tâm vào buổi sáng.
2. Cháo hoài sơn, cà rốt:
Hoài sơn (củ khoai mài) 20g, rửa sạch, ngâm nước cho mềm, xắt mỏng, cà rốt 50 – 80g, rửa sạch, bỏ vỏ, xắt lát mỏng. Hai thứ cho vào nồi nấu với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần vào lúc đói bụng.
  • THỂ CAN THẬN ÂM HƯ: người bệnh đau tức vùng hạ sườn phải, chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, lòng bàn tay, bàn chân và ngực đều nóng (ngũ tâm phiền nhiệt), người gầy, da khô, khát nước, tiểu tiện vàng, khó ngủ, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng.
MỘT VÀI MÓN ĂN THÍCH HỢP:
1. Cháo hà thủ ô, đại táo:
Hà thủ ô (đỏ) 30g rửa sạch, nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml, đại táo 4 – 6 trái rửa sạch, ngâm mềm, bỏ hạt. Dùng nước thuốc, thêm nước vửa đủ để nầu với gạo tẻ 100g + đại táo thành cháo nhừ. Cho ít đường phèn hoặc mật ong vào khuấy đều. Chia 2 lần ăn vào lúc đói bụng.
2. Cháo đậu đen, đại táo, rong biển:
Đậu đen 50g rửa sạch, phơi sấy khô, tán bột, rong biển 30g ngâm nước vo gạo 6-8 giờ, vớt ra, rửa sạch, xắt miếng nhỏ, đại táo 15 trái, rửa sạch, ngâm mềm, bỏ hạt. Nấu đại táo với lượng nước vừa đủ, sôi 30 phút, cho rong biển và bột đậu đen vào trộn đều. Nấu sôi lửa nhỏ thêm 20 phút là được. Chia 2 lần ăn vào lúc đói bụng.
  • THỂ THẤP NHIỆT VÀ ĐÀM Ứ: gan bị sưng to, đau tức, mắt vàng, da vàng, miệng khô, đắng, nước tiểu vàng, người buồn bực, dễ cáu gắt, rêu lưỡi vàng, dơ. Thường gặp ở người bị viêm gan vàng da, viêm gan siêu vi (B,C), người nghiện rượu.
MỘT VÀI MÓN ĂN THÍCH HỢP:
1. Trà sắn dây, lá sen: dùng cho người gan nhiễm mỡ do rượu.
Sắn dây 30g rửa sạch, xắt mỏng (hoặc cho hoa sắn dây 10g rửa sạch), lá sen 1/2 cái rửa sạch, xắt sợi. Hai thứ nấu với 1 lít nước, sắc còn 750ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.
2. Trà cúc hoa, thảo quyết minh:
Cúc hoa 15g rửa sạch, thảo quyết minh 30g sao vàng, tán nhỏ. Hai thứ hãm với 200ml nước sôi trong 15 phút. Có thể ngâm nhiều lần, chia nhiều lần uống thay nước trà trong ngày.

 
Nguồn: Sức khỏe & Đời sống